Hiển thị các bài đăng có nhãn ve-may-bay-di-da-nang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ve-may-bay-di-da-nang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Đình An Cố - Một di tích nghệ thuật của dân tộc

Đình An Cố, xã Thụy An – Thái Thụy là nơi thờ Đức Nam Hải Đại Vương Thượng Đẳng Thần. Đây là một trong 3 ngôi đình cổ kính nhất ở các huyện ven biển duyên hải Bắc bộ.

Đình đã được Bộ Văn hoá xếp hạng Di tích Quốc gia từ năm 1962 về tiêu chí kiến trúc nghệ thuật.

Khảo sát khắp các huyện ven biển từ Mũi Ngọc, Móng Cái qua hết miền duyên hải Bắc bộ tới tận chân đèo Tam Điệp hiện chỉ còn 3 ngôi đình cổ kính nhất. Đó là đình Trà Cổ - những bậc tiền nhân đi giữ cõi đã dày công đóng một dấu ấn văn hoá lớn giữa vùng biên giới Việt Trung; đình Hàng Kênh thành phố Hải Phòng và ngôi đình thứ 3 là đình An Cố. Trong ba ngôi đình này thì đình An Cố lại cổ kính hơn cả.

Truyền thuyết về sự tích ngôi đình

Ngôi đình An Cố ngày nay, theo truyền thuyết được dựng đầu thời Mạc. Hậu chủ hưng công là Tiến sĩ Nguyễn Thế Ân. Tương truyền ông là một bậc thâm viễn, một chính khách nhìn xa, trông rộng, buổi đầu xuất gia là môn khách cho thế tử Lê Chiêu Tôn. Năm 1516, Hoàng đế Lê Tương Dực bị triều thần Trịnh Duy Sản giết hại, đình thần chọn dòng đích của Cẩm Giang Vương Lê Sùng ( Anh ruột vua Lê Tương Dực) tôn làm vua, từ đó ông thành cánh tay phải của vua Lê Chiêu Tôn.

Không may, đời đang lúc nhiễu nhương, triều thần chia bè, kết đảng, các phe cánh đánh nhau triền miên, trong đám danh thần như Nguyễn Hoàng Dụ, Nguyễn Kính,.. Mạc Đăng Dung được lòng người quy thuận, trong lúc ấy thì vua bạc nhược, nay nghe dèm pha, mai nghe thỉnh thác, khi tin tướng này, khi chèn tướng khác,...
 

Nguyễn Thế Ân đành theo lòng người mà hướng theo Mạc Đăng Dung. Năm 1526 Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tôn, sau đó ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Ngày 16 tháng 6 năm 1527 ( âm lịch) đăng quang làm vua, phong cho Nguyễn Thế Ân chức Trung Quan, hàm Ly Quốc công, coi như công thần bậc nhất trong việc mở vương triều.

Trước đó, Nguyễn Thế Ân vâng mệnh vua Lê Chiêu Tôn định xây thêm một điện lớn ở kinh thành Thăng Long. Việc chuẩn bị gần hoàn tất thì xảy ra biến loạn, vua Mạc đăng quang bãi việc ấy, hạ chiếu xây dựng Dương kinh ( Thuỷ Nguyên - Hải Phòng). Trung quan Nguyễn Thế Ân xin đưa công trình đang làm dang dở ở Thăng Long về để trả nghĩa cho dân An Cố và ngoại tổ đã cưu mang ông thuở thiếu thời.
 

Vì điện cũ chưa xong, mới hoàn tất hai vì trung tâm, còn hai vì hồi vì mải lo việc nước, Trung quan cấp tiền cho dân An Cố lo viêc hoàn tất. Bấy giờ, thợ thuyền giỏi đang sửa sang kinh kì, tân tạo Dương kinh. Các cánh thợ khác không đủ tài theo được phong cách các vì đã hoàn tất nên đình An Cố còn có hai vì cạnh trung tâm không được chạm khắc gì cả.

Một kiệt tác kiến trúc điêu khắc thời Lê - Mạc

Đình An Cố có tầm vóc một đại điện ( vì thiết kế cho đại điện ở Kinh thành) bố cục kiểu chữ Đinh. Bái đình cao 0.32m, thềm dài 18 m, rộng 12 m. Đại bờ soi chỉ mớ, trổ hoa chanh. Hai đỉnh hồi đắp ngọc long lớn, cao 0.6 m, dài 1.2m, miệng lớn, răng nhọn ngậm chặt bờ nóc, mắt tròn trợn ngược, mi nhọn như mác, bờm sắc như dao, dựng ngược như chông gai, hất ngược ra phía sau như cờ bay trong gió. Hai chân sau tỳ góc hồi, giống thế hổ ngồi, tạo dáng uy nghi cho đại đình trong những ấn tượng đầu tiên.
 

Hệ thống bờ cánh, bờ đao cũng soi hai tầng chỉ mớ, trổ hoa chanh; góc bờ cánh đắp nghê thần, dàn đao guột đắp, rồng chầu, phượng múa; nghê thì tư thế hiên ngang, bờm rồng, mắt hổ, chân ôm quả cầu, chân vờn mây cuộn, chân đạp hoa chanh. Đao phượng mỏ dài, bờm xoắn, cánh sải như chim phượng, đuôi dài như chim công. Đao rồng: Râu bờm phất phới, cổ dài vươn cao, cưỡi tản vân như đang cất cánh bay.

Hiên trước, các đầu bẩy chạm tứ linh, tứ quý. Hai gian hồi đóng bốn tầng, ngưỡng bát, ngưỡng thượng, ngưỡng trung, ngưỡng hạ, trên dựng bao kép lắp con song tiện. Thềm bậc lát toàn đá phiến bào gọt, ba gian giưa lắp 2 tầng ngưỡng, đóng cánh cửa ô.
 

Trừ 2 vì cạnh ( do dân làng tự thi công) còn các vì trung tâm, vì hồi, vì nách đều chạm trổ cực kỳ tinh xảo. Toàn bộ hệ thống cồn, rường, cửa võng, lan can, sàn cầu được chạm tới gần 200 con rồng với các đề tài: Tứ linh; long hổ giao đấu; anh hùng tương ngộ, long phi; long giáng, long quấn thuỷ, long quần, long ổ,... Mỗi mảng chạm tối thiểu ba tầng 5 lớp. Chỗ thì cả bầy rồng đang thong dong cưỡi mây du ngoạn, chỗ thì rồng hổ giao tranh quyết liệt, 9 rồng 10 hổ quần nhau,... Lại có chỗ rồng và hổ đang như vui như đùa, vờn cuộn lấy nhau thật thanh bình.

Lịch sử thời tạo dựng đình An Cố cực kỳ phức tạp, biến động như nội dung cá mảng chạm ở đình này. Ngoài đời, vào năm Tý, Mạc Đăng Dung bắt vua Lê Chiêu Tôn thì ở mảng chạm vì hồi phải: Một bầy chuột rúc rích đuổi nhau, con bò trên đầu, con chạy trên lưng, con ẩn trong vây rồng.
 

Cái mực thước rồng là biểu tượng của vua không còn, long nhan bị loài chuột bọ trèo lên, long thể bị bị loài súc vật biến thành bãi chơi trốn tìm. Mảng chạm phía sau vì hồi động nam: chim sẻ đỗ trên đầu đại bàng như thông điệp thời kỷ cương sụp đổ. Ở mảng chạm vì tiền, phía nam còn có cảnh rồng khỉ giao tranh. Cả một bầy rồng đủ cả cha, con, đàn đống mà bị một con khỉ chặn đường, tay túm râu, tay thò vào miệng giằng ngọc. Rồng mất ngọc như vua mất vương quyền: “ Quốc gia là của trăm nhà, ai có đức được người theo về sẽ là chủ của thiên hạ” ( Chiếu nhường ngôi của vua Lê Cung Hoàng cho Mạc Đăng Dung)
 

Nghệ thuật điêu khắc đình làng vừa đạt sự tinh mỹ, vừa đạt tính hoành tráng; chi tiết đến từng nếp vây, chiếc vẩy, tỉ mỉ đến từng sợi râu, sợi bờm. Có những mảng lớn diện tích từ 3 – 4m2 mà từ long cuốn thuỷ đến phượng hàm thủ, liêm áp, liên quy, nghê múa, nghê chầu,... Lớp xa, lớp gần, chạm bóng, chạm chìm, chạm lồng, lớp nào cũng tỉ mỷ chi tiết. Mỗi linh vật là một tác phẩm, mỗi mảng chạm là một tác phẩm và cả ngôi đình là một kiệt tác lớn đạt đỉnh cao của giá trị văn hoá nghệ thuật, thành chuẩn mực cho đời sau.

Riêng hai vì cánh tiền và hệ thống con dư của đình An Cố thì vượt xa các tác phẩm cùng loại trước đó và muôn sau. Các con dư đều được chạm lồng từ 5 đến 6 tầng. Đầu dư mi mày dựng ngược, miệng rồng nanh sắc như dao, mang to, miệng ngậm bảo ngọc; râu, tóc, bờm uốn sóng nhịp nhảngồi cùng duỗi thẳng như hàng gươm giáo, tạo thế đang bay lao thẳng về phía trước.
 

Hai cánh tiền gian trung tâm dài tới 1,2m, cao 0,8m, dày 0,4m là cả bầy rồng con chầu, con múa, con lượn, con bay,... Gần 200 tác phẩm rồng trong đình, mỗi con một vẻ nhưng có chung thể thức: Rồng lửa, mây bờm bay ngang thành rừng kiếm bãi gươm, dựng ngược thành đuốc lửa và cả ngôi đình là một rừng gươm khổng lồ, là không gian đuốc lửa, là thế giới long, ly, quy, phượng,...

Hệ thống hai tầng cửa võng là những kiệt tác độc nhất vô nhị: Trước đình An Cố không có, sau đình An Cố không bao giờ sao chép được. Với không gian chỉ dài 3,6m, cao 1m mà có gần 40 tác phẩm chạm tứ linh. Chỗ thì rồng duỗi từ các tầng mây giáng xuống, ngậm kéo đầu võng; chỗ thì rồng vòng lưng như yên ngựa để cõng đài sen; chỗ thì quắp đuôi quặp lấy trụ đấu rồi uốn duỗi trong không gian bay lên.
 

Phần da cá: lớp lớp rồng vàng xoắn xuýt, râu bờm dựng ngược cùng ốc cháy như biển lửa hoặc co duỗi, soải dài nhấp nhô nhiều lớp, nhiều tầng như sóng đại dương. Các ván lùa dày chưa tới 3cm mà có nơi chạm long nổi 3 tầng, nét mảnh như lá mạ, như sợi tóc mà không gẫy, hàng vạn chi tiết không để lại một lỗi lầm.

Toà hậu cung lòng  rộng 10m gồm 3 gian. Vì cửa cũng được chạm khắc công phu không thua gì bái đình. Vẫn đề tài tứ linh nhưng quan sát thật kỹ có phần tinh xảo hơn. Cửa vào cung cấm chia làm 3 khu: Khu trung tâm và tả hữu. Xà xoi vỏ măng, ngưỡng soi chỉ mớ, bào kép soi kép. Hai toà tả hữu đóng cửa khay, bốn bức giữa lắp thượng xỏ, hạ mật. Các vì còn lại trong cấm đều tạo thế sấu quỳ. Các thanh rường, vì câu đầu, quá giang đều tạo dáng đầu sấu đội đấu soi, lưng sấu cõng xà. Cả bầy sấu mỗi vì thanh mộy lớp, mỗi lớp 16 con sấu to khoẻ chầu vào chính điện. Công năng kiến trúc khoẻ, ước lệ nghệ thuật cao,...
 

Trải qua các biến động của lịch sử, ngôi đình còn lại ngày nay là các toà do Trung quan Nguyễn Thế Ân xây dựng vào những năm 1527 – 1528. Trong kháng chiến chống Pháp, đình An Cố là văn phòng thành hội Hải Kiến; làng An Cố là cơ sở của đại đội 131 và đại đội số 1 bộ đội Hải Phòng - Kiến An. Tại đây đã diễn ra trận chống càn Mê-duy nổi tiếng do đích thân tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp là Thống chế Đờ lát Đờ tát xi nhi chỉ huy vào ngày 27.4.1951 (Tức 20.3 âm lịch). Tướng Đờ lát Đờ tát xi nhi đã đích thân đáp máy bay vào thị sát đình làng An Cố - một làng kháng chiến điển hình trong chiến dịch đồng bằng Bắc Bộ.

Thời kỳ vàng son, đình An Cố xứng đáng là thiết chế văn hoá tiểu triều đình cũng là thần diện thuần Việt, là kiệt tác nghệ thuật kiến trúc, nơi ghi chép đời sống văn hoá dân gian. Mỗi bức chạm khắc đều phản ánh một góc đời sống xã hội, rộng thì khắc hoạ chuyện cung đình, hẹp thì miêu tả lịch sử của làng và đề tài nào cũng đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, có tầm khái quát rộng lớn.

Với những giá trị về kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc ấy, ngày 28 tháng 4 năm 1962, đình An Cố đã vinh dự được Bộ trưởng Bộ Văn hoá (Nay là bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) Hoàng Minh Giám ký Quyết định xếp hạng Di tích, danh thắng Quốc gia đợt I ( Quyết định 313-VH/VP). Đây là một trong hai di tích đầu tiên của Thái Bình được xếp hạng ( cùng Chùa Keo – Vũ Thư) và là 1 trong 62 di dích đầu tiên trên toàn Miền Bắc được xếp hạng di tích Quốc gia.

Ngày nay, đình An Cố trở thành viên ngọc quý trong các di sản kiến trúc văn hoá thời Lê Mạc của đất nước, là điểm đến của nhiều du khách  và các nhà nghiên cứu văn hoá trong và ngoài nước.

Theo Nguyễn Thụ Đát (UBND Thành phố Hà Nội), VNExpress
Du lịch, GO!

 

Thành Vinh bây giờ có khác Thành Vinh xưa...

(VTC) - Thành phố Vinh bây giờ đã được công nhận Đô thị loại một, Huân chương Độc lập hạng ba. Nhiều công trình xây dựng cao tầng làm đẹp cho thành phố, đường sá nội thành rộng thênh thang.

Đêm đêm dòng người nô nức đổ về Quảng trường dạo chơi, nơi có tượng đài Bác Hồ và các bài hát vang lên ca ngợi công lao của Người hy sinh vì dân tộc, vì dân.

Tôi đến Vinh, và ở Vinh đã gần 30 năm, nhiều lần ngồi xem các trang báo viết về Vinh, bần thần trước bàn phím. Vinh có vui, có buồn, và có cái gì đó bồn chồn, thoảng thốt lướt qua, xót xa trong quá khứ? Cái còn, cái mất, cái xưa, cái nay có còn tồn tại với “cơ chế thị trường” không? Trong ký ức của tôi có nhiều kỷ niệm đẹp về Vinh xưa, nhưng Vinh nay lại không có, không còn nữa. Đôi lần giữa đêm khuya, hồi tưởng, lòng mình hẫng hụt, thiếu thốn, thầm thì không thành lời: Vinh ơi, không lẽ...

Nhớ mãi lần đầu tới Vinh cuối những năm tám mươi. Ngày ấy từ quê vào Vinh trở thành vấn đề, đi ô tô phải chen chúc cả ngày trên xe tải, xe ca. Đi tàu phải chờ đợi, có khi thức trắng qua đêm chờ giờ tàu chợ, làm bạn với rệp cắn ở ghế ga tàu, người liêu xiêu mất ngủ, rệp còn theo người lên cả chuyến tàu suốt cuộc hành trình. Giờ nghĩ lại phương tiện vào Vinh cuối năm tám mươi bao giờ người cũng gai gai, cũng nhồn nhột ngứa ngáy với cảm nhận như thể… rệp đang cắn mình vậy. Các cột điện ở Vinh ngày ấy bằng gỗ được quét hắc ín đen thui, đường đi nội thành rải nhựa, có nhiều ổ gà, lồi lõm. Tiếng xe ngựa lọc cọc, lọc cọc buồn buồn theo nhịp bước. Vẫn biết bây giờ đã có xe buýt thay thế “chức năng, vai trò” của xe ngựa rồi, mà sao mình vẫn nhớ, vẫn mong có chuyến xe ngựa cho mình nhìn lại.
 

Đàn bà, trẻ nhỏ trong quá khứ bán nước chè xanh rao dọc phố đều đều đến buồn ngủ. Tiếng rao kẹo kéo, cu đơ, kem que… làm loãng không khí buồn tẻ hiu hắt của một ngày lao động. Người đi xe đạp nhiều như người đi xe máy bây giờ. Gian phòng nhỏ mặt đường thấp lè tè với biển hiệu “Hiệu sách nhân dân” thế là thành… hiệu sách. Ngày xưa biển hiệu gì cũng kèm theo hai chữ “nhân dân” phía đuôi dòng chữ. Bây giờ thì thành phố Vinh không còn biển hiệu nào kèm theo hai chữ “Nhân dân” như ngày xưa nữa. Cũng giống các thành phố khác, biển hiệu tiếng Việt, nhà hàng lớn thì thêm tiếng Anh, mặc dù người tây, tàu xuất hiện buôn bán ở Vinh không nhiều. Nơi sản xuất ra hàng hoá ở Vinh rất ít, hầu hết buôn bán trung gian, hàng ăn, hàng uống thì nhiều vô kể, đủ các loại, các kiểu…

Ngày trước, một lần vào thành phố bao giờ cũng ra ngay chợ Vinh để mua một cái gì đó, để về quê khoe cho mọi người biết mình đã đi…Vinh. Ấy vậy mà một, hai lần đi chợ rồi sau đó sợ chạy mất dép. Vì sao vậy? Vì có một thời chợ Vinh nổi tiếng về giá thách cao ngất ngưởng tận trên… trời. Ví như cái áo đúng giá chỉ có năm mươi ngàn đồng, nhưng có thể thách tới ba trăm ngàn. Người nhà quê u ơ chỉ dám trả giá hai trăm ngàn, hoặc “dũng cảm” lắm ngã giá thấp nhất cũng phải một trăm năm mươi ngàn. Thế là quá đủ lời cho một con buôn ở “chợ giời” qua một ngày buôn bán. Có người nhà quê trả giá xong, biết mình hớ, bỏ đi không lấy nữa, thế là con buôn nắm tóc lại, dúi mặt xuống hàng, bắt lấy. Kinh hoàng cho thái độ buôn bán ở chợ Vinh một thời.
 

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa, chợ Vinh vắng dần, vắng dần, các con buôn chỉ ngồi ngáp, và dần dà nhận ra rằng, chợ Vinh vắng khách là tại mình chứ không phải tại ai. Người tiêu thụ đã “sợ” Vinh, chỉ tập trung mua bán ở các shop, chợ nhỏ, chợ huyện và ở các vùng khác. Những năm mở đầu của thời kỳ mở cửa, thái độ của người buôn bán chợ Vinh có sự thay đổi, đó là cách ứng xử văn hoá kinh doanh giữa con người với con người. Mà nói cho cùng, nhịp độ của cuộc sống phát triển nhanh như vũ bão, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thời kỳ của điện tử, thái độ kinh doanh không thay đổi thì chỉ có “sống hay là chết”?

Tôi có người bạn xa quê đã ba mươi năm, sinh sống ở đất Bắc, cuối đời chuyển việc về quê hương, ngỡ ngàng trước sự đổi thay. Đường sá rộng, sạch, hoa quả các loại: cam, chanh, xoài, ổi, chuối… có mặt quanh năm, hầu hết đều do người Nghệ mình trồng khắp nơi trên địa bàn của tỉnh đưa về Vinh tiêu thụ. Mùa hè, khách du lịch về Vinh, về quê Bác cũng nhiều, cách ứng xử kinh doanh của ngành du lịch cũng đã đổi thay. Nhưng có lẽ sự ngạc nhiên của bạn không phải là ở đường sá và hoa quả, mà là cách ăn diện của đa số đàn bà con gái tại Vinh, nhất là ở các công sở, nhất nữa là khi các mợ đã có điều kiện. Tôi người Nghệ, nên thích nghe tiếng Nghệ, ấm, trầm, gần gụi, tự tin hơn khi gặp nhau.
 

Ấy vậy có một số các bà, các cô mặc váy kiểu tây quanh năm, quần áo lúc nào cũng như đồ mới, tóc xanh, tóc vàng, mắt xanh mỏ đỏ, tiếng nói lại đa đá tiếng Bắc vào, khó nghe. Nói thẳng ra là nhìn các mợ cảm thấy gia giả thế nào, khó gần, khó tin khi hình thức đã được các mợ trau chuốt đến mức không còn nhận ra là người Nghệ. Gần đây, thấy nhiều mợ tự lái ô tô đi làm. Nhìn các mợ mặc, phương tiện đi lại như thế, ai dám nói Vinh đang nghèo? Mà thôi, không bàn luận về cách mặc, đi lại của các mợ nữa, chỉ nói thêm một tý về cách “ăn” để kết luận rằng các mợ tại Vinh nổi tiếng hơn cả mợ Bắc Hà. Thì có mợ thuộc đẳng cấp “quan”, ăn gì chưa nói, chỉ riêng uống rượu như nước lã đã “nể” rồi, nhất là khi tiếp khách, đã có hàng chục bài báo về mợ, nhưng hai từ “ăn chơi” đến giờ vẫn tồn tại với mợ, không ai vượt qua được!
 

Về Vinh, không ai không nhắc tới gió Lào, không nhắc tới gió Lào là coi như chưa về Nghệ An. Gió thổi cồn cột, bụi tung lên trời, trả cát bụi về… trời, đường sá ở Vinh mùa hè sạch tinh như thể bị lau trong nhà vậy. Người đi đường ở Vinh phải đầy đủ áo quần, khẩu trang kín mít, nếu không sẽ không mở được mắt mà đi. Vinh ngày xưa ít nóng hơn ở Miền tây xứ Nghệ, nhưng những năm gần đây, mùa hè ở Vinh cũng nóng không kém. Đường sá bằng nhựa, bê tông, nhà cao tầng ở Vinh mọc lên càng nhiều, kèm theo nhiều máy điều hoà xả cái nóng ra ngoài về mùa hè, rồi ô tô, xe máy, bụi, khói, vì thế nên Vinh thời đại CNH-HĐH bây giờ khác Vinh xưa là thế.

Lại nhắc thêm một tý nữa về Vinh, mà Vinh cũng nhiều điều cần nhắc nữa, nhưng tôi lại chỉ muốn nói về mối quan hệ giữa con người với con người. Về mối giao lưu ngoài tỉnh, nhất là người cùng nghề văn hoá với nhau. Mà sao ngày xưa trong nam, ngoài bắc qua lại Vinh thường dừng tại Vinh, vui lắm, tôi còn nhớ mãi tên những người ấy, bạn ấy, đồng nghiệp ấy, đang còn sống tại Thủ đô và nơi khác nữa, giờ vẫn qua lại Vinh, nhưng ít dừng, hoặc không dừng nữa với Vinh. Vinh ơi, không lẽ…
 

Vinh bây giờ hơn hẳn ngày xưa, nhưng cũng có một điều gì đó không bằng Vinh xưa, là cái gì vậy? Tất cả cũng đang là cảm nhận? Tôi nhớ mãi một buổi sáng mưa lạnh, có người đàn bà gầy, ốm yếu, quê tận miền trung du Nghệ An tìm tôi chỉ để đọc một… bài thơ, cảm động quá. Nhất là chị lại đang là cựu chiến binh Trường sơn, lần đường về Vinh. Ai dám nói Vinh đã đi vào dĩ vãng? Vẫn có người tìm Vinh để chia sẻ hoài niệm với Vinh đây! Chị nói, Vinh đổi thay nhiều, tìm nhà mãi, nhưng cố tìm sẽ gặp người cần gặp, cùng hoài niệm với chị những năm tháng ở Trường Sơn. Chị đọc:

EM BÂY GIỜ.

&Ldquo;Em bây giờ đã hết tuổi xanh.
Mái tóc bạc nghiêng vào vùng quá khứ.
Đường Trường Sơn ta đi một thuở
Xanh ngút cây ngàn, xanh ngút mộng mơ.
Giữa rừng già cánh võng đung đưa.
Một tiếng chim kêu cũng giật mình thảng thốt.
Hoa phong lan tỏa hương thơm ngát.
Suốt dọc đường tuổi trẻ ta qua.
Em bây giờ thiếu vắng những giấc mơ.
Mơ một ngày đong đầy hạnh phúc.
Hãy trở về đây cánh chim từng phiêu bạt.
Như ngôi sao xa nhấp nháy cuối chân trời”

Theo Truyền Hình Số VTC

 

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Vé máy bay vietjetair giá rẻ đi đà nẵng

Vé máy bay đi Đà Nẵng giá rẻ được cung cấp bởi đại lý V&V Booking - đại lý bán vé máy bay quốc tế được ủy quyền của hãng hàng không Vietjetair

Hiện nay có rất nhiều chuyến bay của các hãng hàng không có khai thác những chuyến bay đến Đà Nẵng như Vietnamairlines, Vietjetair, Jetstar,...

Đối với hãng hàng không Vietjetair thì có 2 đường bay phổ biến đến Đà Nẵng đó là đường bay Hà Nội - Đà Nẵng xuất phát từ Sân bay quốc tế Nội Bài và đường bay TP Hồ Chí Minh - Đà Nẵng xuất phát từ Sân bay quốc tế Tân Sân Nhất. Cả 2 đường bay này đều có điểm đến là Sân bay quốc tế Đà Nẵng

Sân bay quốc tế Đà Nẵng là điểm đến đầu tiên khi du khách đến với Đà Nẵng và cũng là nơi gặp gỡ sau cùng khi rời khỏi nơi đây. Đây là cảng hàng không lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên Việt Nam, cách trung tâm thành phố 3km.

Bảng giá vé tham khảo đi Đà Nẵng

Chặng bay                :     Hà Nội - Đà Nẵng
Hãng hàng không    :    Vietjet Air
Giá vé                      :    789.000 VNĐ

Chặng bay               :     TP Hồ Chí Minh - Đà Nẵng
Hãng hàng không    :    Vietjet Air
Giá vé                      :    789.000 VNĐ

Lưu ý : Giá vé không bao gồm phí và dịch vụ ( Giá vé chỉ mang tính chất tham khảo )

Những điểm du lịch hấp dẫn khi bạn đến với Đà Nẵng

Bà Nà Hills - thiên đường giải trí


Bà Nà Hills được mệnh danh là Sapa của miền Trung với khí hâu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình vào khoảng 18oC, Bà Nà – Núi Chúa là khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng lý tưởng ở miền Trung Đà Nẵng.

Du khách đến khu du lich Bà Nà Hill không chỉ được tận hưởng không khí trong lành, xanh, sạch, đẹp mà còn được chiêm ngưỡng những cảnh quan đẹp mà hiếm vùng nghỉ mát nào có được.

Cáp treo - một vật dụng không thể thiếu khi đi du lịch Bà Nà

 Ở Bà Nà một ngày có 4 mùa riêng biệt: buổi sáng iết xuân, buổi trưa vào hạ, buổi chiều se se sang thu và đêm về lạnh giá như giữa đông.

Các bãi biển đẹp của Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố biển với bãi biển dài hơn 60 km. Với bãi biển đẹp, trải dài thoai thoải và cát trắng miên man, Biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh


Đến với Đà Nẵng, các bạn không nên bỏ qua những bãi biển, bãi tắm tuyệt đẹp này nhé: Bãi biển thuộc bán đảo Sơn Trà, bãi biển Non nước, bãi biển Xuân Thiều, bãi tắm Bắc Mỹ An và Thanh Bình,...

Ngoài những địa danh trên, Đà Nẵng vẫn còn rất nhiều khu du lịch, vui chơi giải trí và ẩm thực đặc sắc đang chờ bạn đến khám phá

Nếu các du khách muốn tiết kiệm khi đi du lịch tại Đà Nẵng, hãy mua ngay vé máy bay đi Đà Nẵng giá rẻ Vietjet Air của đại lý chúng tôi.

Nhân viên của đại lý bán vé máy bay Vietjet Air V&V Booking sẽ cung cấp cho quý khách những thông tin cần thiết, giải đáp thắc mắc và lựa chọn cho quý khách giá vé cũng như hành trình bay thuận lợi nhất.

Nguồn:  http://vemaybaydidanangvietjetair.blogspot.com/2014/01/ve-may-bay-i-nang-gia-re-uy-tin-va-chat.html